Vào thời điểm những năm 90, việc mua bán 70 khẩu súng và số lượng ma túy lên tới 9 bánh heroin và gần 1 tấn thuốc phiện có thể coi là con số kỷ lục so với những đường dây phạm tội khác... Trong số 51 đối tượng bị ra vành móng ngựa, có những kẻ sau mười năm mới giật mình ân hận vì một lần “nhúng chàm”.
Kỳ 1: TỪ CHUYÊN ÁN VŨ KHÍ CỦA CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG
Ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, chuyện một anh bộ đội phục viên liền một lúc có hai ngôi nhà cao tầng ngất ngưởng, tiện nghi đầy đủ và hiện đại đúng vào thời điểm cả nước vừa bước vào cơ chế thị trường như Trần Hữu Thủy quả là không bình thường. Thủy sau thời gian là bộ đội biên phòng đóng quân ở Đồn Phó Bảng, Đồng Văn, Hà Giang, trở về là một người không có nghề nghiệp ổn định. Vợ Thủy là Nguyễn Thị Nga (SN 1968, quê ở Sơn Dương, Tuyên Quang) chỉ là giáo viên THCS, nhưng cách chi tiêu của Thủy không giống như người thất nghiệp bao giờ.
KẺ ĐÁNG NGỜ
Mỗi khi đi ra ngoài Thủy cũng ăn mặc trau chuốt, tay cầm cặp táp, thậm chí nhiều lần còn thuê ôtô con đi lại như ông chủ. Đã có lần trong lúc cao hứng, Thủy mở bung chiếc cặp đang cầm, khoe hàng xấp tiền mới cáu cạnh khiến đám bạn nhậu được phen tròn mắt. Giải thích về sự giàu có của mình, Thủy nói có mối buôn gỗ và gần đây gặp nhiều thuận lợi vì trúng giá. Song nhiều người sống gần nhà anh ta lại thắc mắc bởi có thấy Thủy mang gỗ về nhà bao giờ đâu, ngoài việc nhắc về mặt hàng này trên điện thoại khi nói chuyện với đối tác.
Những hành vi đáng ngờ của anh bộ đội phục viên thất nghiệp nhanh chóng lọt vào tầm ngắm của CA tỉnh Tuyên Quang. Qua theo dõi, các trinh sát biết mỗi khi về Hà Nội, Thủy đến nhà Lại Trung Thông (SN 1967, quê ở Sơn Dương, Tuyên Quang), đang trú tại Trung Văn, Từ Liêm (Hà Nội), một người trước kia cùng công tác với Thủy ở Đồn biên phòng Phó Bảng, nhưng chỉ trong ngày là vội vã trở về Tuyên Quang. Khi lên Hà Giang, Thủy đến nhà Lý Thị Sình (SN 1972) và chồng là Trương Phát Hòa (SN 1971) ở giáp biên, thị trấn Phó Bảng, huyện Đồng Văn (Hà Giang), nhiều khi ở lại chơi vài ngày mới về. Đây là một tổ ấm đặc biệt bởi Hòa là con trai thứ của bà Lý Hội Sèo (SN 1946) khá nổi với “nghề” buôn bán vũ khí và ma túy ở thị xã Hà Giang, có nhiều người thân sống ở vùng giáp ranh giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thời còn ở thị trấn Phó Bảng, Đồng Văn (Hà Giang), chồng Sèo bị kết án 20 năm về tội mua bán trái phép chất ma túy (ra trại 2004) và 1 đứa con trai đang cải tạo ở trại giam Quyết Tiến. Bản thân Sèo từ lâu đã có dấu hiệu buôn bán ma túy và vũ khí nhưng lại chưa bị kết án bao giờ. Năm 1999, Sèo bị CA tỉnh Hà Giang bắt về tội mua bán trái phép vũ khí quân dụng nhưng hết thời hạn 4 tháng tạm giam, bà ta được trả tự do vì cơ quan CA chưa có đủ chứng cứ kết tội. Sống ở thị trấn nhỏ, chẳng làm ăn buôn bán gì nhưng nhà Sèo rất giàu, con cái đứa nào cũng được cho ăn học đến nơi đến chốn, khi xây dựng gia đình, được cha mẹ đầu tư tiền của để buôn bán, có đứa còn được cho ra nước ngoài du học, có đứa lập công ty riêng. Thời kỳ đứa con trai bị bắt giam, Lý Hội Sèo cũng đã có ý định mang 20.000USD đi “chạy án” cho con nhưng không thành... Trong vụ này, nhà Sèo có 4 người “dính” tội, ngoài thị còn có con trai Trương Phát Hòa, con dâu Lý Thị Sình và con rể Phạm Văn Phương.
Ngoài việc thường xuyên thậm thụt tại nhà Hòa, Thủy còn hay hẹn hò Sình và giữa hai người này dường như có chuyện bồ bịch. Sình là cô gái người dân tộc khá xinh, nước da trắng ngần, mở hiệu may tại nhà và sau mỗi lần gia đình “có khách”, cô lại cùng ông khách đi đâu đó. Mặc dù biết vợ đang tư tình với Thủy nhưng có lẽ do là bạn hàng nên không thấy Hòa có phản ứng và chuyện trong nhà của họ cứ êm đềm một cách... bí ẩn.
Sau khi “giải mã” được cách làm giàu của Thủy, các trinh sát nhận định anh ta chính là một tay buôn vũ khí và ma túy có hạng. Mặt hàng gỗ mà Thủy thường giao dịch chẳng qua là ám hiệu của các đối tượng trong đường dây ám chỉ số súng. Những chuyến về Hà Nội, đi Hà Giang, nói là thăm đồng đội cũ, bàn cách làm ăn nhưng thực chất là những lần Thủy đi lấy súng về đem lên khu vực biên giới bán. Một kế hoạch vây bắt được triển khai có sự phối hợp giữa lực lượng CA tỉnh Tuyên Quang và Cục CSĐT tội phạm về ma túy. Ngày 1-12-2004, sau nhiều ngày bám theo, các trinh sát đã bắt quả tang Thủy và Thông đang vận chuyển 4 khẩu súng ngắn K54 tại Km số 9 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân (Hà Nội). Bước đầu cả hai khai sáng 1-12-2004, Thủy đến nhà Thông mua bốn khẩu súng ngắn. Mua bán xong thì Thông đi xe máy đưa Thủy ra bến xe thị xã Hà Đông để về Tuyên Quang, trên đường đi thì bị bắt. Khám xét nhà Thông, cơ quan công an thu được 1 khẩu K54, một hộp 32 viên đạn; 3 lò so súng ngắn cùng nhiều linh kiện của súng K54. Trên chuyến xe đưa Thủy về Tuyên Quang thực hiện lệnh khám nhà, dù hắn đã thú nhận còn cất giấu một số súng, nhưng phải mất rất nhiều thời gian, lực lượng CA mới tìm ra số súng này giấu trong chiếc hầm bí mật mà khi xây nhà, Thủy đã thiết kế. Đó là một căn hầm có kích thước 35x35x35cm, nằm ở góc chết gầm cầu thang ở tầng 1, bên trên các viên gạch được xếp khít khiến không ai có thể ngờ đến. Khi nắp chiếc hầm được khui ra, các trinh sát thu được 8 khẩu súng K54; 50 viên đạn K54; 9 nòng súng ngắn và 2 ốp súng ngắn.
Trong lúc cơ quan CA đang khám nhà Thủy, có một người phụ nữ dân tộc, trông khá xinh tìm đến hỏi xem Thủy đã “mang gỗ” về chưa. Đó chính là Lý Thị Sình, vợ của Trương Phát Hòa. Lập tức Sình bị giữ lại để lấy lời khai. Theo lời khai của Sình thì họ quen nhau từ khi Thủy còn đóng quân ở Đồn biên phòng Phó Bảng nhưng mối quan hệ bất chính này cũng mới nảy sinh đồng hành với việc buôn bán vũ khí giữa Thủy và vợ chồng Sình. Có những lúc lên giao “hàng”, không có chồng Sình ở nhà, lấy cớ làm ăn, Thủy ở lỳ hàng mấy ngày trời ở nhà người tình rồi mới chịu nhận tiền “hàng” ra về. Chính vì thế, để khám phá phần ma túy tiếp theo, Ban chuyên án quyết định chọn tên Hòa là mắt xích dễ “đột phá” nhất và đây chính là con “át chủ bài”, nắm rõ mọi hoạt động trong đường dây. Vì vụ án liên quan đến nhiều đối tượng ở nhiều tỉnh nên CA tỉnh Tuyên Quang đã đề nghị Cục CSĐT tội phạm về ma túy Bộ Công an cùng tham gia phá án. Sau khi bắt giữ Hòa, các điều tra viên nhanh chóng di chuyển hắn về Trại giam T16 để khai thác thông tin. Những điều tra viên giỏi được tung vào cuộc, hàng tuần liền các anh phải ở trại, tìm cách làm cho Hòa mở miệng. Mất ngủ và căng thẳng, mắt ai cũng trũng sâu, nhưng khi Hòa bắt đầu nói ra sự thật, ai cũng vui vì hơn tháng trời ăn ngủ trong trại giam của họ không vô ích. Nhiệm vụ đầu tiên đầy gian nan thử thách, quyết định cho việc xóa sổ cả một đường dây tội phạm tồn tại từ 10 năm trước.
LÊN CAO NGUYÊN GIỮA MÙA ĐÔNG
Từ lời khai của tên Hòa, ròng rã nhiều tháng sau, các trinh sát, ĐTV của CA tỉnh Tuyên Quang và Cục CSĐT tội phạm về ma túy phải hàng trăm lượt lên Đồng Văn (Hà Giang) để điều tra và bắt đối tượng. Vì chúng có quan hệ họ hàng với nhau, sống ở nơi phức tạp, từng xảy ra những vụ thanh toán, trả thù do buôn bán phạm pháp rất manh động. Để đảm bảo an toàn cho lực lượng vây bắt, các trinh sát phải đến Tuyên Quang từ tối hôm trước, đợi đến nửa đêm bắt đầu đi tiếp, làm sao để đến Đồng Văn là khoảng 5 giờ sáng, bất ngờ ập vào nhà đối tượng đúng lúc chúng đang ngủ, không kịp giải cứu cho nhau. Kể lại những ngày đó, đại tá Nguyễn Chí Lễ, Cục phó Cục CSĐT tội phạm về TTXH Bộ Công an, lúc đó là Cục phó Cục CSĐT tội phạm về ma túy cho biết, khi phá án đang là mùa đông nên việc đi đêm lên cao nguyên đá Đồng Văn không đơn giản chút nào. Con đường ngoằn ngoèo, nhiều khúc cua tay áo, chạy theo chiều xiên đứng, ngồi trong ôtô mà cảm tưởng như lôi chân người đi, giống một chiếc bẫy khổng lồ, mờ ảo trong làn sương mù dày đặc, chỉ sơ sẩy một chút là lao xuống vực. Mặc dù được trang bị đèn vàng nhưng ánh sáng của nó không “phá” nổi màn sương nên các trinh sát phải thay nhau chạy bộ, cầm đèn bão đi trước dẫn đường. Sau những chuyến đi ấy, 58 đối tượng bị bắt giữ với tội danh mua bán trái phép ma túy và vũ khí quân dụng.
Theo lời khai của Thông thì đầu năm 2002, Thông sang nhà Nguyễn Mạnh Đức, láng giềng ở sát vách, chơi và chúc Tết. Thấy trên tường treo cuốn lịch của Trung tâm cơ khí và vũ khí chuyên dụng, Thông hỏi Đức có lấy được súng bán không và được Đức trả lời để xem đã. Vì là thủ kho quản lý một số súng cũ, hỏng do các đơn vị của Bộ và CA các địa phương đưa về sửa chữa nên Đức thừa biết việc này nghiêm trọng thế nào song vẫn lấy 1 khẩu bán thử cho Thông với giá 1,8 triệu đồng.
Sau khi mua khẩu súng trên, Thông cất lên gác xép rồi đón xe lên nhà Thủy ở Tuyên Quang, nhờ tìm nguồn tiêu thụ. Chợt nhớ tới vợ chồng Sình - Hòa mà Thủy quen và liên kết làm ăn từ ngày còn làm ở Đồn Phó Bảng, Thủy tính chuyện nối lại mối quan hệ cũ nên đã đồng ý mua súng của Thông để bán. Lần đầu tiên, do không có tiền nên Thủy đã rủ Đặng Văn Bắc là người cùng quê góp tiền mua khẩu súng của Thông với giá 3,5 triệu đồng, sau đó mang lên Hà Giang bán cho Hòa với giá 7 triệu đồng. Lần buôn bán này, Bắc được Thủy trả công 500 ngàn đồng.
Tháng 6-2002, Thủy rủ Nông Phi Cơ góp tiền về Hà Nội mua của Thông 4 khẩu súng rồi đem bán cho Sình, Cơ được Thủy chia cho 3,2 triệu đồng. Tổng số súng mà Đức đã nhiều lần lấy trong kho bán cho Thông là 63 khẩu (nhưng thực chất là giao cho Thông 68 khẩu) cùng một ít đạn, linh kiện phụ tùng súng K54 để Thông thay thế và bắn thử. Số súng này sau khi đến tay Thủy được anh ta bán cho vợ chồng Hòa 31 khẩu còn lại bán cho các đối tượng khác như Mai Viết Hiền và Mai Văn Thắng 19 khẩu còn 4 khẩu bị bắt quả tang và 8 khẩu súng chưa bán, vẫn cất giấu ở hầm bí mật. Vợ chồng Hòa-Sình mua những khẩu súng này đưa sang Trung Quốc bán còn anh em Hiền, Thắng lại đem bán cho một số đối tượng ở Lào Cai rồi chuyển ra nước ngoài bán.
(Còn tiếp)






